vietnamese Tiếng Việt english English Giới Thiệu
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Bị xem là "thần đồng thất bại" vì từ bỏ công việc, sự nổi tiếng để sống một cuộc đời bình thường nhưng ông Kim Ung-yong ở Hàn Quốc vẫn cảm thấy hạnh phúc.

Có nhiều từ để miêu tả người đàn ông tài năng Kim Ung-yong: Thần đồng Hàn Quốc, nhà nghiên cứu của NASA, diễn giả và giáo sư đại học. Hành trình cuộc đời của ông Kim từ cậu bé thần đồng đến một người mong muốn cuộc sống bình thường có vẻ là một nghịch lý. Ngày nay, người Hàn Quốc vẫn nhớ tới thông điệp nổi tiếng của ông Kim: "Là người đặc biệt không quan trọng bằng việc sống một cuộc đời bình thường".

Ông Kim Ung-yong, hiện 52 tuổi, từng được sách Kỷ lục Guinness ghi danh là người thông minh nhất thế giới với chỉ số IQ 210. Kim thể hiện tố chất thông minh ngay khi chào đời không lâu.
Chưa đầy 12 tháng, Kim biết nói và 24 tháng đã có thể đọc lưu loát tiếng Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức và Anh. Những năm đầu đời, Kim còn làm thơ và vẽ tranh. Từ năm 3 tuổi đến năm 6 tuổi, Kim là sinh viên ngành vật lý tại Đại học Hanyang. Kim từng xuất hiện trên chương trình truyền hình Nhật Bản để giải phương trình phức tạp khi mới 7 tuổi.

Kim được Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) mời về làm nghiên cứu tại đây năm 8 tuổi. Kim cũng có bằng tiến sĩ vật lý tại Đại học Colorado. Sau một thập kỷ làm việc ở NASA, Kim nghỉ việc để về Hàn Quốc. Kim gọi khoảng thời gian 10 năm ấy là những năm đơn độc.

"Thời điểm đó, cuộc sống của tôi giống như một cái máy: thức dậy, cân bằng phương trình, ăn rồi ngủ. Tôi thực sự không biết mình đang làm gì. Tôi cô độc và không bạn bè", Kim tâm sự.
Với Kim, được ở gần mẹ là yếu tố quyết định khiến ông từ bỏ tất cả. Tuy nhiên, sự trở về của Kim thời đó được báo chí nước này rất quan tâm.

"Tôi phát ốm và mệt mỏi khi lại trở thành tâm điểm. Tôi cảm thấy mình giống như một con khỉ trong vườn thú. Khi ấy chưa có Twitter hay phần mềm chat yahoo nên báo giấy vẫn quyền lực hơn cả. Tôi đoán một số người thậm chí còn bắt đầu bảo tôi là tâm thần phân liệt. Tôi không muốn ai chú ý đến mình cả", Kim cho hay.
p-1497-1428086521.jpg
Kim xuất hiện trên truyền hình của Nhật Bản năm 1969 khi đang giải toán. Ảnh: The Korea Herald.

Kim muốn có công việc ở Hàn Quốc nhưng cần phải có bằng tốt nghiệp các cấp. Vậy là thần đồng lại đi học từ đầu. Chỉ trong vòng một năm, Kim học xong chương trình cấp một và trung học cơ sở. Năm tiếp theo, ông hoàn thành bậc trung học phổ thông rồi sau đó học đại học tại một trường ở ngoại ô thành phố Seoul để tránh bị chú ý.

Quyết định rời NASA, học trường đại học ít danh tiếng và trở thành nhân viên công ty của Kim khiến nhiều người ngạc nhiên. Truyền thông Hàn Quốc gọi ông là "thần đồng thất bại". Nhưng với thần đồng được gọi là thất bại, cuộc sống của ông là bất cứ thứ gì, trừ sự thất bại. Kim hạnh phúc khi được là nhân viên công ty bình thường. Thần đồng cho hay mọi người kỳ vọng ông trở thành nhân viên cấp cao trong chính phủ hay một công ty lớn nhưng Kim không nghĩ vậy."Tôi cố gắng nói với mọi người rằng tôi hạnh phúc với con đường mình chọn. Tại sao mọi người lại gọi niềm hạnh phúc của tôi là một sự thất bại?", Kim tâm sự.

Kim luôn xem cuộc sống của ông là một sự thành công. Không nhiều người làm những thứ mà họ thực sự muốn làm, nhưng Kim thì có. Theo Korea Herald, ông Kim năm ngoái trở thành giáo sư tại Đại học Shinhan ở tỉnh Gyeonggi. Ngoài ra, ông còn là giảng viên bán thời gian của nhiều đại học danh tiếng, trong đó có Yonsei, Sunkyunkwan và KAIST.

"Tôi rất phấn khích khi dạy tại trường đại học, công việc từ lâu đã là giấc mơ của tôi. Tôi sẽ cống hiến hết mình để truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau", Kim nhắc tới công việc giảng dạy của mình.
Từng được ghi danh là người có chỉ số IQ cao nhất thế giới nhưng ông Kim nhận ra sự thành công về học vấn không phải là thước đo một con người. Ông Kim cũng đưa ra lời khuyên với các bậc phụ huynh, những người rất háo hức học cách nuôi dạy con mình trở thành thiên tài. Theo đó, điều tốt nhất bố mẹ có thể làm cho con cái, với tư cách là đấng sinh thành, là hỗ trợ và hướng dẫn chúng tự đạt được mục đích từng bước một.

Tự đi trên hành trình của mình, trẻ cuối cùng sẽ phát hiện ra chúng muốn đạt được điều gì trong cuộc sống. Cha mẹ nên dõi theo và để con tự tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của chúng. Ngoài ra, theo quan niệm của mình, ông Kim cũng khẳng định cuộc sống thiếu các mối quan hệ sẽ thật vô ích.
Tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới. Theo ông Kim, đó là kết quả của thực tế. Chúng ta đang mất đi cảm giác hy vọng và quên cách mơ ước. Chúng ta cần tìm ra hạnh phúc thực sự và thay đổi cách suy nghĩ, không nên theo những quy tắc xã hội cố hữu mà hãy sáng tạo cái mới.

Cộng đồng mạng bày tỏ sự ủng hộ ông Kim, đồng thời giận dữ khi truyền thông và xã hội nói chung có cách hành xử sai lầm. Một người dùng mạng có tên Youn để lại bình luận trên Naver, một trong những trang xã hội nổi tiếng nhất ở Hàn Quốc: "Ông ấy không thất bại mà thành công hơn bao giờ hết khi tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống".
Bình Minh/VNEXPRESS.NET

Cuộc Sống Bên Tôi,Giai Thoại,Kho Tri Thức,Khoa Học,Tin Mới

Xưa, các đấng quân vương ngoài việc thiết triều bàn nghị việc nước, điều khiển việc quốc gia đại sự, nhiều vị bởi muốn hiểu nhân tình thế thái thế nào nên vi hành vào chốn nhân gian.
Trong sử Việt, những cuộc vi hành của vua chúa không được ghi lại nhiều. Nhưng qua những tài liệu cóp nhặt được từ sử cũ, chúng ta cũng biết được dăm ba điều về các cuộc vi hành ấy, và cũng có những sự khác lạ nhất định.
Vua vi hành, mặc dân gặp cướp
Vua Tự Đức, cũng đồng thời là một nhà thơ nổi tiếng thời Nguyễn, trong Việt sử tổng vịnh, phần Đế vương, khi viết về vua Lý Cao Tông nhà Lý, ngài đã nhận xét về tiền nhân rất nghiêm phê: “Trong thời gian tại vị, Lý Cao Tông xây dựng dinh thự không ngớt, và Đế vui chơi không có chừng mực; giặc giã và trộm cướp trong nước nổi lên như ong, nhân dân đói khát khổ sở gấp bội những năm khác. Cơ nghiệp nhà Lý bắt đầu suy đốn từ đấy”. Lại có thơ rằng:
Cưỡng bão bi tần dĩ tự do,
Cố tương dân mịch phụng bàn du.
Chiêm Thành khúc lý đa ai oán,
Quy Hóa giang đầu thuỷ bất lưu.
Tạm dịch:
Khăn tã tự do thỏa ý trời,
Hại dân chẳng kể, kể rong chơi.
Chiêm Thành khúc hát, lời ai oán,
Quy Hóa đầu sông nước chẳng trôi.
Nhận xét nghiêm khắc của một đấng quân vương dành cho đấng quân vương ở cùng địa vị “thiên tử”, là tấm gương soi chính xác đối với vị vua thứ bảy của nhà Lý. Trị vì đất nước 35 năm (1175 - 1210), là một trong những vị vua trị vì lâu nhất của nhà Lý (chỉ kém vua Lý Nhân Tông) cũng như chế độ phong kiến Đại Việt, nhưng công trạng, sự nghiệp Lý Cao Tông để lại cho hậu thế gần như chẳng có gì. Có chăng là tiếng xấu về sự ham chơi bời, tiêu phí sản nghiệp quốc gia cho những thú vui chơi vô bổ của vua. Nào là ưa phương thuật, sự lạ, tin tài sai bảo hổ của sư Tây Vực năm Đinh Mùi (1187), hay uy trị sấm của Nguyễn Dư năm Bính Dần (1206). Lại chăm việc thổ mộc, xây dựng cung Nghiêm Thiềm năm Đinh Tỵ (1197), dựng gác Kính Thiên năm Quý Hợi (1203)… Đặc biệt, vua rất ưa vi hành, nhưng không phải là quan tâm muôn dân trăm họ, mà để thỏa chí tò mò, sự ham vui chơi của bản thân, như lời Đại Việt sử ký toàn thư thuật lại: “Vua ngự đi khắp núi sông, phàm ngự đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu và lập miếu để thờ”… “vua xây dựng không ngớt, ngao du không chừng mực”.
Cũng vì cái sự ngao du ấy, có lần vua gặp cảnh “bất bình chẳng tha” (trích lời Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm cùng tên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu), nhưng đấng kim thượng lại nhắm mắt làm ngơ. Ấy là vào năm Bính Dần (1206) niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ hai theo ghi chép của Đại Việt sử lược, việc xảy ra ngay tại kinh thành, khi vua 37 tuổi ta.
Năm đó, trong nước đã loạn lạc dữ lắm, mà vua thích đi chơi, nhưng đường xá không thông được, vua bèn sai làm hành cung Ứng Phong, Hải Thanh ở đầm Ứng Minh, hàng ngày cùng bọn cung nữ đi chơi bời làm vui. Lại lấy thuyền to làm thuyền ngự, lấy các thuyền bé chia làm hai đột, sai bọn cung nữ, phường tuồng chèo thuyền, vua dẫn bọn tả hữu bắt chước nghi vệ thiên tử như khi vua ngự đi chơi đâu vậy. Lại còn lấy sáp ong bọc những tấm lụa và các thứ hải vật thả xuống ao rồi sai người lội xuống mò lên giả làm đồ vật dưới Long Cung đem dâng. Bá quan văn võ thấy vua rong chơi vô độ đều sợ hãi không dám nói.
Một hôm, vua ngự giá đi chơi ở đầm Ứng Minh như mọi khi. Đang lúc cùng bọn hầu cận, cung nữ vui đùa, bỗng nghe từ ngoài thành vọng lại những tiếng kêu thảm thiết. Lại nói thời bấy giờ, đói kém liên miên, bọn giặc cướp có mặt ở khắp nơi, giết người cướp của ngang nhiên như chốn không người. Để ý, cả đoàn mới biết là tiếng người bị ăn cướp đang hô hoán kêu cứu. Mặc dù đủ cả cấm binh vây quanh đến vài lớp, tiếng kêu cứu rõ mồn một, nhưng Lý Cao Tông chỉ ngỡ ngàng một chút, rồi lại cười nói, đùa vui như trước, giả vờ không nghe thấy gì, mặc cho dân đen, con đỏ của mình chẳng có ai giúp đỡ, đành gào thét vì bị cướp của giữa thanh thiên bạch nhật. Thật là:
Vui chơi nào có biết gì,
Thờ ơ phó chuyện an nguy mặc trời.
(Trích Đại Nam quốc sử diễn ca)
Vua siêng đi chơi, bị ném đá vỡ đầu
Đó là trường hợp của vị vua thứ tư nhà Trần: Trần Anh Tông (1293 - 1314). Vua vi hành bị bọn vô lại ném đá, nhưng đó là quãng thời gian khi vua mới lên ngôi còn ham chơi bời. Xét cả thời trị vì 21 năm của vị vua đặt duy nhất niên hiệu Hưng Long này, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí đã ca ngợi công đức của vua là: “Vua khéo nối nghiệp trước, thương dân, lập chính, đời được yên vui, chính trị tốt đẹp, chế độ rực rỡ, đáng khen”. Hay thời Nguyễn, Thái Hà Diên Mậu Hoàng Cao Khải khi viết Việt sử yếu, cũng nhận xét thời vua Trần Anh Tông: “Nhân tài xuất hiện ngày càng nhiều, đạo học chấn hưng ngày càng thịnh, triều vua Trần Anh Tông thật là triều thịnh trị nhất về đời nhà Trần”.
Quản nước tốt đẹp là thế, nhưng không phải lúc nào vua Trần Anh Tông cũng nghiêm cẩn sửa mình như lời dặn của thượng hoàng Trần Nhân Tông:
Thủ thành nối nghiệp gian nan,
Hễ là tửu sắc lòng toan đã chừa.
(Trích Việt sử diễn âm)
Khi vua mới lên ngôi, tuổi độ thanh niên mới lớn, nên tính bồng bột, ham chơi bời, lại có Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông bên mình trị nước, do đó mà chính sự có phần lơ là. Có lần, vì ham uống rượu xương bồ mà suýt bị Thượng hoàng truất ngôi thiên tử bởi giận. May sao có văn nhân Đoàn Nhữ Hài hay thơ làm biểu tạ lỗi mới được vua cha bỏ qua cho lỗi ấy. Ngoài việc thích uống rượu, do tuổi trẻ thích tìm hiểu, nên Anh Tông thỉnh thoảng cũng hay cùng bọn quân hầu vi hành ra ngoài nhân gian thăm thú dân tình, vui chơi thả sức. Khổ nỗi, đi đêm lắm có ngày gặp ma, sự thể ấy được Việt sử cương mục tiết yếu cho hay.
Tính vua thích vi hành, ban đêm thường cải trang làm công tử con quan, lên kiệu cùng hơn chục tên hầu cận rong ruổi khắp kinh thành Thăng Long, nào ngắm tửu quán đông vui, nào xem người qua lại nhộn nhịp, lại mắt liếc tay đưa những bóng hồng lướt qua. Cứ thế cả đoàn đi đến khi gà gáy mới về lại cung cấm. Ấy rồi có đêm khi đến một phường nọ trong kinh thành, bọn thanh niên hư đốn tính hay ghen ghét, tưởng kiệu Anh Tông là công tử con quan nhà ai diễu phố nên thấy ngứa mắt, mới hùa với nhau cầm gạch ném vào kiệu. Bọn người đi theo hầu hoảng hốt lắm, chẳng cần giấu bí mật vua vi hành nữa, mới thét lên cho bọn kia nghe thấy:
- Kiệu của vua đấy!
Nghe đến thiên tử, bọn thanh niên vô lại cả đám chạy tan sợ bị tội. Đến khi xem lại, thì đầu vua đã bị trúng mảnh gạch ném vào, chảy cả máu, cả chục ngày vết thương mới liền sẹo.
Sau, Thượng hoàng Trần Nhân Tông thấy vết sẹo ấy, mới hỏi nguyên do vì sao lại bị thế. Vua Trần Anh Tông cứ thực thà mà tâu lại. Thượng hoàng Nhân Tông bực mình lắm, lắc đầu, tặc lưỡi mãi mới thôi.
Kể ra chuyến vi hành ấy, may mà mới bị ném đá, nếu có ẩu đả nữa, không biết mệnh vua có được bảo toàn. Cũng sau lần bị nạn vi hành, vua Anh Tông ngày càng trở nên thận trọng, nghiêm cẩn hơn trong vui chơi, trị nước, giúp dân cường, nước thịnh, triều đại thêm thịnh đạt, được Việt sử diễn âm hết lời thi tán:
Khiêm xung hiếu hữu bản sinh tri,
Cải quá chung hình tuyệt ẩm thì.
Nghiệp kế thủ văn xưng thịnh chúa,
Nội tu lễ nhạc ngoại thương di.
Nghĩa là:
Hiếu hữu khiêm toàn đức bẩm sinh,
Rượu chừa lỗi sửa bỏ phồn hình.
Trọng văn kế nghiệp đời khen thịnh,
Lễ nhạc tôn súng bốn bể thanh.
Vua hiền gặp trộm giỏi
Thời Lê sơ, vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) được biết đến là một ông vua cai trị sáng suốt, tạo nên đỉnh cao thịnh trị cho bản thân và triều đại. Nói đến vua, đức trị cũng giỏi, pháp trị cũng hay. Thế nên trong Việt sử yếu mới nhận xét rằng: “Bàn về nền quân chủ ở Việt Nam ta, được xưng tụng về văn trị và võ công cực thịnh không lúc nào bằng triều đại Hồng Đức (Lê Thánh Tông)”.
Để yên nghiệp nước, vua không chỉ chăm lo việc giáo hóa, nông tang, mà còn chú trọng tới luật pháp để xã hội đi vào quy củ, Quốc triều hình luật ra đời từ lý do đó. Một trong những trọng tội vua Thánh Tông muốn bài trừ ở mọi góc độ là nạn tham ô, nhũng lạm, nhất là đối với quan lại. Giai thoại dưới đây đề cập tới vấn đề xử tệ nhũng lạm, có liên quan tới chuyến vi hành của vị vua sáng.
Thời vua Thánh Tông trị vì, ở Thăng Long có một tay đạo chích rất giỏi nghề. Nhưng khác với những kẻ chôm chỉa thường thấy khác, hắn hay trộm của nhà giàu chia cho dân nghèo, mà chỉ lấy của những kẻ giàu có bất chính. Do thoắt ẩn, thoắt hiện, ra tay nhanh như chớp nên nhiều người gọi hắn là Quận Gió.
Đúng vào dịp Tết nọ, vua Thánh Tông cải trang vi hành đón giao thừa. Biết tiếng Quận Gió, vua sai người tìm ra nơi Gió đang ở, rồi tự mình giả cách làm học trò trường Giám (Quốc Tử Giám) vào gặp. Chàng giám sinh hờ nói với Quận Gió:
- Tôi ở Thanh Hóa Thừa tuyên, làm học trò trường Giám, năm hết tết đến muốn về quê mà trong tay không còn cắc bạc nào. Dám xin ông giúp cho lộ phí đi đường.
Nghe chàng giám sinh than thở, Quận Gió cảm động. Nói:
- Chẳng giấu gì nhà anh, tôi là Quận Gió, chắc anh đã biết tiếng. Anh nghèo, tôi sẽ giúp. Tiền không có sẵn, nhưng tôi sẽ lấy của mấy tay trọc phú giúp anh. Vậy, bây giờ anh định lấy của nhà ai?
Chàng giám sinh hồ hởi:
- Trộm của phú ông ở cửa Tây thành được không?
- Không được! Ông ấy giàu nhờ cày sâu, cuốc bẫm, lao động vất vả quanh năm suốt tháng - Quận Gió lắc đầu.
- Vậy trộm của chủ cửa hiệu vàng bạc ở phố cửa Đông thành? – Chàng giám sinh lại tiếp.
Quận Gió lại lắc đầu, đáp:
- Ông ấy người ngay thẳng. Có của là nhờ buôn bán, tích cóp. Giờ anh đợi ở đây, tôi đến nhà lão quan coi kho bạc nhà vua ở phố cửa Bắc chôm cho ông vài nén. Lão ấy có lắm vàng ròng, bạc nén trong nhà. Đó là những thứ không phải của hắn.
Nói xong, Quận Gió nhanh như chớp đã mất hút trong đêm đen. Chưa đầy một khắc, Quận Gió đã quay lại với hai nén bạc trên tay, mỉm cười với chàng giám sinh:
- Hai nén bạc này, anh có đủ tiền làm lộ phí và còn để dùng vào việc sôi kinh, nấu sử. Mong rằng sau này anh đỗ đại khoa, nhớ đừng có bòn rút xương máu, công sức của dân mà hãy làm một ông quan liêm.
Chàng giám sinh gật đầu cảm tạ, lại soi hai nén bạc dưới ánh nến, thấy đề bốn chữ: “Quốc khố chi bảo”. Không nghi ngờ gì nữa, đây là bạc trong kho của nhà nước.
Sáng mùng một Tết, chàng giám sinh ấy đã ngự trên ngai vàng, dưới sân điện, các quan tung hô chúc Tết. Khi ấy, vua Thánh Tông mới kể về chuyến vi hành đêm giao thừa, lại cho mọi người chuyền tay nhau hai nén bạc “Quốc khố chi bảo”. Viên quan coi kho mặt cắt không còn giọt máu, bị lột bỏ hết mọi tước vị. Gia sản bị tịch thu, thân bị lưu đày vì tội nhũng lạm quốc khố nhà nước. Còn Quận Gió sau đó được vua cho vời vào cung ban hiệu là “quân tử đạo chích” và ban thưởng rất hậu. Giai thoại vi hành trên của vua phần nhiều mang tính hoang đường, nhưng việc xử nghiêm tệ tham nhũng thì sử sách còn ghi lại nhiều lắm.
Theo KIẾN THỨC

Giai Thoại,Tin Mới,Văn Học Nghệ Thuật


Tả Ao hay Tả Ao tiên sinh, là nhân vật làm nghề địa lý phong thuỷ nổi tiếng ở Việt Nam. Ông được cho là tác giả của một số cuốn sách Hán Nôm cổ truyền bá thuật phong thủy của Việt Nam. Trong dân gian tương truyền nhiều giai thoại cổ về hành trạng thuật phong thủy của ông ở các làng xã Việt Nam thời xưa. Tả Ao có quê ở làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).
Tác giả: GS.TS CAO NGỌC LÂN
              (Đại học Quốc tế Thành công Đài Loan)
1. Tả Ao để mộ tổ cho nhà Trạng Lợn Dương Đình Chung
Vào thời nhà Lê, họ Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam là một quí tộc có nhiều người làm quan to trong triều. Đến đời ông Dương Đình Lương thì sa sút, con cháu không nối được nghiệp cha ông, phải làm nghề bán thịt để sinh nhai.
Hai vợ chồng ông tuy sống bằng nghề giết heo, giết bò, nhưng bản tính thật thà, phúc đức, có tiền vẫn bố thí cho những người khó ở chung quanh và thờ Trời Phật rất mực, chứ không ác nghiệt như phần đông bạn đồng nghiệp lúc bấy giờ.
Một hôm, Lương ông đi lễ ở cái miếu đầu làng về thì gặp một cụ già vai đeo khăn gói, tay chống gậy, hỏi thăm tìm nhà trọ.
Lương ông đáp:
- Thưa cụ, ở đây không có quán trọ nào hết. Bây giờ trời sắp tối rồi, cụ mà đi nữa thì sẽ lỡ đường, âu là mời cụ về nhà tôi nghỉ. Tôi không có tiền nhưng đủ cơm nước đãi cụ mươi ngày. Nếu cụ có lòng yêu chúng tôi muốn ở lại đây chơi ít ngày.
Ông khách mừng rỡ.
- Nếu được như thế thì còn gì hay bằng.
Lương ông đưa ông khách về nhà, tiếp đãi rất chân thành. Cơm nước xong, ông khách hỏi chủ nhà làm gì. Lương ông cứ thực tình mà đáp:
- Không dám dấu cụ, tổ tiên chúng tôi xưa làm quan to tại triều, nhưng đến chúng tôi tài hèn sức kém nên đành phải bán thịt để sinh nhai.
Hai người trò chuyện một đêm, tâm đầu ý hợp. Chủ nhất định lưu khách lại vài hôm, không ngờ ông khách lì lợm ở lại luôn ba tháng, ngày nào cũng hai bữa rượu rồi chống gậy đi chơi la cà hết gò này sang đống nọ, hết ruộng nọ lại đến ao kia.
Thì hóa ra ông nọ là một thầy địa lý đang đi xem đất, mà ông ta không ai khác hơn là ông thánh địa lý Tả Ao. Thấy Lương ông là một người phúc hậu, hiền lành, Tả Ao muốn đáp ơn, quyết định ở lại liền ba tháng chính là để tìm cho Lương ông một ngôi đất quý.
Tả Ao hỏi Lương ông:
- Ông bà đãi tôi thành tâm quá, tôi cảm tạ lòng ông bà hết sức. Nay tôi tìm được một ngôi đất quý cho ông bà, vậy xin hỏi ông bà muốn gì?
Lương ông đáp:
- Bẩm cụ, tôi chẳng muốn gì cả, chỉ mong mỏi có một điều là sinh được một đứa con trai có học hơn tôi để nối nghiệp ông cha cho khỏi mang tai mang tiếng.
Tả Ao gật đầu:
- Tưởng gì, chớ nếu chỉ có thế thì dễ lắm. Ngôi đất tôi chọn cho ông phát trạng mà lại là Trạng không phải học. Vậy ông sửa soạn đi để tôi đặt mả tổ cho, kẻo tôi có việc sắp sửa phải đi xa rồi.
Lương ông bèn nhờ ông Tả Ao đặt lại ngôi mộ của thân phụ ông. Táng xong được vài tháng thì Lương ông làm ăn thịnh vượng hơn trước. Thấy trời thương như thế, vợ chồng Lương ông lại càng cố tu nhân tích đức. Được gần một năm thì Lương bà có thai. Trong khi Lương bà có thai, Lương ông hàng ngày thấy một hiện tượng lạ.
Nguyên từ nhà Lương ông ra chợ thì phải đi qua một cái gò gọi là gò Thần Đồng. Lần nào đi chợ về Lương ông cũng thấy trong lùm cây có tiếng trẻ con kêu the thé:
- Thầy ơi, lần sau đi chợ thầy nhớ mua quà cho con nhé.
Lương ông thoạt đầu không tin, nhưng sau thấy đứa trẻ cứ nói the thé ra như thế ông phải đáp:
- Ờ để lần sau thầy mua quà cho con.
Lương ông không muốn nói dối, hôm sau mua quà thật. Ông gọi:
- Đứa nào đòi quà thì ra đây mà lấy.
Tiếng đứa trẻ nói vọng ra:
- Thầy cứ để đấy, con ra lấy ngay bây giờ.
Lương ông để ý thì đi một quãng, quay lại xem, gói quà biến từ lúc nào không rõ. Từ đó lần nào đi chợ về, Lương ông cũng mua quà cho đứa trẻ. Ông biết đây không phải là người mà là ma. Một lần đi qua để quà xong ông hỏi: “Con có thể về làm con của ta được không?” Đứa bé nói: “Thế con ở với thầy được bao lâu?” Ông nói: “Thầy mua cho con bao nhiêu lần quà thì con ở với thầy bấy nhiêu năm”. Ông nhẩm tính mình đã mua được bảy mươi hai lần. Khi về đến nhà thì Lương bà chuyển bụng sanh được một con trai. Đứa con ấy là Trạng Lợn sau này vậy.
Lương ông đặt tên cho con trai là Chung Nhi. Tục truyền vua Lê Thánh Tôn cũng ra đời cùng ngày với Chung Nhi. Cả Trạng Ăn, Trạng Vật cũng sinh năm ấy. Sau này cả ba  người này cứu vua Lê Thánh Tông thoát nạn Lê Nghi Dân cướp ngôi. Cả ba ông giúp vua Lê Thánh Tôn đánh giặc Chiêm thành ở phía nam, đi sứ ngoại giao với triều Minh ở phương Bắc, làm cho Lê Thánh Tông trở thành ông vua nổi tiếng trong lịch sử.
2. Cứu vua nhờ mộ kết phát
Một ngày nọ, Tả Ao đi ngao du sơn thủy, tuổi tuy đã già nhưng dáng người vẫn quắc thước khoẻ mạnh. Khi ông đi đến một làng quê nọ, trời nắng nóng nên ghé vào ngồi nghỉ mát dưới gốc cây đa bên làng, ông nhìn thấy một anh nông dân đang miệt mài cày ruộng, đến khi mặt trời đứng bóng mới chịu tháo cày cũng vào gốc đa ngồi mở cơm nắm ra ăn.
Thấy một ông lão cùng ngồi ở đó nhưng không ăn uống gì cả, anh ta mới lên tiếng hỏi:
- Xế trưa rồi ông không dùng cơm sao, hay là ông không sẵn mang theo, thôi cùng nắm cơm này ăn với cháu cho vui.
Anh nông dân vừa giở cơm, vừa mau mắn mời ông lão:
- Cháu mời ông dùng cơm…
Thấy thái độ anh nông dân dễ mến, Tả Ao không khách khí, bèn vui vẻ ngồi lại cùng ăn. Bốn năm ngày như vậy, anh nông dân vẫn một lòng kính trọng Tả Ao, mời cơm và ông cũng không lần nào từ chối. Đến bữa cuối cùng, bỗng ông nói với anh nông dân:
- Chắc anh vẫn không biết ta là ai? Ta chẳng giấu gì anh, ta chính là thầy địa lý Tả Ao đây!
Anh nông dân nghe danh Tả Ao đã lâu, nay có dịp diện kiến nên vừa mừng vừa hốt hoảng, liền quỳ lạy xin ông tha lỗi. Tả Ao đỡ anh nông dân đứng dậy nói tiếp:
- Ta xem anh là người có đức nên có ý giúp anh đặt một ngôi mộ sau này sẽ phát phúc, phát tài, cho anh nở mặt với thiên hạ…
Anh nông dân trả lời:
- Ông dạy quá lời, nhà cháu mấy đời nay đều là nông dân chân lấm tay bùn, bần hàn, đi cày thuê cuốc mướn kiếm cơm qua ngày, mong gì nở mày nở mặt với ai?
- Anh cứ yên tâm. Ta nói sẽ giúp anh được giàu sang phú quiý trong vòng 100 ngày thôi. Nào anh hãy dẫn ta ra nơi mộ của cha mẹ của anh đi, ta xem thế nào sẽ sửa cho.
Anh nông dân mừng rỡ bèn nghe theo lời Tả Ao, dẫn ông đi ra mộ của cha anh ta. Tả Ao xem xong mới truyền:
- Mộ đặt nơi thế đất không tốt, suốt đời sẽ bần hàn cơ cực. Phải đào lên cải táng, di dời qua nơi đất khác mà thôi.
Nói rồi bảo anh nông dân đào mộ lên, xếp xương cốt vào một chiếc hủ đất đem đi chôn ở một huyệt đất mà Tả Ao đã chọn sẵn. Xong đâu đấy, Tả Ao căn dặn:
- Anh nhớ không cho ai biết chuyện này. Một trăm ngày nữa, vào ngày mùi tháng ngọ, đúng giờ tý anh phải có mặt ở kinh đô, đứng ở hướng Đông. Hễ gặp một người đàn ông mặc áo trắng, đi hài xanh, từ trong thành chạy ra với bộ mặt hốt hoảng, thì anh cứ chạy lại bảo: “Con xin cứu ngài!”, rồi cõng thẳng về giấu trong nhà, ngày ngày lo cơm nước cho tử tế. Anh cứ thế mà làm, đừng suy nghĩ gì hết.
Nói xong, Tả Ao từ biệt anh nông dân mà đi thẳng, về sau anh ta có đi tìm nhưng chẳng biết ông đi về đâu.
Đúng như lời dặn của Tả Ao, đúng ngày giờ anh nông dân ra kinh đô đứng đợi ở cửa Đông. Bỗng nghe có náo động từ trong thành vọng ra nào tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng quân reo hò, tiếng người gào thét, rồi lửa bốc cháy đỏ rực một góc trời. Quả nhiên, một người đàn ông dáng thư sinh mặc áo trắng, đi hài xanh, hớt hải một mình chạy qua gần chỗ anh nông dân đang đứng. Anh ta chỉ đợi có thế bèn chạy đến bên nói to:
- Thưa ngài, con xin cứu ngài!
Nói đoạn ghé vai cõng người ấy chạy một mạch về giấu trong nhà. Người ấy dáng chừng sợ hãi, suốt ngày im lặng nghe ngóng động tĩnh. Anh nông dân cũng chẳng hỏi thân thế của người đàn ông ấy đang lo sợ đến quên ăn mất ngủ.
Vài ngày sau bỗng có loa truyền rằng, ai đang giữ vua ở đâu thì báo cho quan quân kịp đưa vua về kinh. Lúc ấy ông khách mới nói cho anh nông dân biết mình chính là vua, mấy ngày trước đây bị bọn gian thần định soán ngôi. Nhà vua sai anh ta đi báo cho quan quân biết nơi vua đang ở ẩn. Khi quan quân đến rước vua, vua cho phép cả anh nông dân cùng đi theo mình về kinh thành.
Tại kinh đô vua thiết triều, trấn an trăm họ và phong cho vị ân nhân là anh nông dân được làm quan đến chức nhị phẩm, cùng vàng bạc lụa là nhiều vô số kể. Như vậy, ngôi mộ mà Tả Ao đặt cho người cha anh nông dân, kết phát y như lời ông nói khi trước, chỉ trong vòng 100 ngày.
3. Tả Ao giúp làm quan
Quanh năm Tả Ao thường đi đây đó khắp trong nước để tìm những ngôi đất quiý. Một lần đi qua tỉnh nọ thấy có một ngôi đất rất đẹp, ông bèn buột miệng khen:
- Kiểu đất này mà đặt mộ thì chắc chỉ sáu tháng là phát làm quan. Nhà ai có phúc thì được hưởng thôi.
Sau đó ông đi về hướng làng, gặp một người đàn ông trung niên đi tới. Nhìn thấy nét mặt ông ta tuy phúc đức nhưng tướng lại khắc khổ quá. Tả Ao mới hỏi:
- Ông có muốn ra làm quan không?
Người đàn ông đáp:
- Lạy ông, nhà tôi bất hạnh ba đời, học hành chỉ đủ đọc sách, muốn làm quan không xong, thi cử đợt nào cũng thi rớt, nên nay vẫn sống kham khổ làm ruộng kiếm sống thôi. Được làm quan thì phúc ba đời để lại.
Tả Ao nghĩ bụng ông ta không nói sai. Rồi ngắm nhìn ông ta một lúc bèn nói:
- Thôi được, tôi sẽ giúp ông̣ đặt lại ngôi mộ tổ. Ông về lo sẵn 300 quan tiền.
Người đàn ông mừng lắm vội mời Tả Ao theo mình về nhà, gọi người thân ra đào ngôi mộ tổ, bốc xương cốt cho vào cái tiểu sành đem đến chôn sâu xuống huyệt đất do Tả Ao vừa thấy ban sáng mà táng lại. Xong việc, ông ta giữ lời, trao cho Tả Ao đủ 300 quan tiền, nhưng Tả Ao chỉ lấy có ba quan, còn lại ông bảo đem phát hết cho người nghèo khó trong làng.
Gần sáu tháng sau, vào một đêm không trăng, cả nhà ông ta đang quây quần dưới ngọn đèn bỗng có tiếng người gõ cửa. Người nhà ông ta ra mở cửa, thấy trước mặt là một ông tướng uy nghi lẫm liệt nhưng có vẻ đang thất cơ lỡ vận. Khách thật thà nói mình đang lỡ độ đường, xin gia đình cho ăn uống. Ông ta vốn hiếu khách vội sai người nhà nấu cơm đãi khách rất mực nồng hậu.
Cơm nước vừa xong, ông khách mới nói:
- Thưa ông̣, tôi là tội phạm đang bị nhà Chúa lùng bắt. Đằng nào tôi cũng không thoát khỏi. Xin ông̣ mang dây thừng trói tôi lại rồi đem nộp cho chúa Trịnh mà lĩnh thưởng. Như vậy dù tôi có bị hại, tôi cũng giúp ích được cho gia đình ông̣, còn hơn là uổng thân vô ích.
Cả nhà kinh ngạc sững sờ trước những lời nói của người khách lạ. Không ai nỡ hành động, nhưng ông khách cứ giục mãi, bất đắc dĩ họ phải làm theo.
Chúa Trịnh được ông ta giao nộp viên tướng thất thế, hết sức khen ngợi, bèn phong cho làm chức Tri huyện để trọng thưởng. Vị khách đó chính là Mạc Kính Đô, tướng nhà Mạc đang bị thất thế. Vì cảm tấm lòng tốt của người đàn ông mà Kính Đô đáp lại ông bằng một hành động lạ lùng có một không hai trong thiên hạ.
Đúng như lời tiên đoán của Tả Ao không sai. Chỉ trong sáu tháng là được làm quan.
4. Tả Ao giúp làm thợ
Một hôm Tả Ao đang đi đến vùng đất nọ. Thấy ngôi đình làng ở đây đặt hướng bị thất cách, ông đứng ngắm mãi rồi đến gần để xem cho rõ.
Giữa lúc trong đình đang làm lễ kỳ yên, các vị chức sắc trong làng đang chuẩn bị bữa tiệc chiều. Một người biết mặt Tả Ao liền chạy ra khẩn khoản mời ông vào trong đình. Các vị chức sắc được gặp thầy địa lý trứ danh nên mừng lắm, ông tiên chỉ trong làng nói:
- Hôm nay là ngày tế kỳ yên trong làng, may được gặp thầy thật là phúc cho cả làng này lắm. Nhân thể nay mai làng cho sửa lại ngôi đình, xin cụ coi cho cái hướng nào tốt, làm sao cho làng chúng tôi phát khoa bảng rầm rầm, nhằm đè đầu cưỡi cổ thiên hạ một phen cho họ biết tay. Lâu nay cả làng chưa ai thi đậu cả.
Một ông hăng hái nói thêm:
- Cụ tiên chỉ nói phải đấy thưa cụ. Các làng bên, không làng nào không có tiến sĩ, cử nhân, xoàng thì cũng phó bảng, chót chét cũng tú tài. Riêng làng này chắc các cụ trước đặt hướng đình có nhầm nhỡ gì đây nên bao nhiêu năm trời vẫn suôn cành, không hưởng được trái lộc nào. Cụ đã đến đây xin ra tay giúp chúng tôi được đè đầu cưỡi cổ thiên hạ một phen cho hả dạ.
Tả Ao chỉ cười nói:
- Tưởng gì chứ nếu các cụ chỉ ước có vậy thì tôi xin ra tay, không dám nề hà gì nhưng chỉ xin 3000 quan tiền để lấy công thôi.
Các vị chức sắc nghe nói đến tiền công đến 3000 quan, thì lắc đầu le lưỡi, có người than thở:
- Làng này vì không đỗ đạt, nên không “tơ hào” được gì nên còn nghèo túng, chỉ mong sau này đè đầu cưỡi cổ được thiên hạ, nói gì 3000 đến 5000 quan chúng tôi cũng lo cho cụ được, mong cụ xem lại mà bớt cho.
Tả Ao nghĩ thầm trong bụng, ta lấy tiền giúp người nghèo chứ có phải dùng riêng đâu. Bọn chúng mi thích đè đầu cưỡi cổ thiên hạ để kiếm tiền hưởng thụ, thì ta sẽ chiều ý thôi. Nghĩ thế nên giận, Tả Ao lên tiếng:
- Nghe các vị nói như vậy, ta cũng cảm động lắm, thôi thì các vị có bao nhiêu để trả công, xin cứ nói thấy được ta giúp cho.
Vị tiên chỉ nghe Tả Ao nói thế, liền đáp:
- Trong đình chỉ còn vỏn vẹn 500 quan tiền, mong cụ lấy giúp.
Tả Ao lại giận trong lòng, đình làng nghèo mà cúng kỳ yên đến hai bò năm trâu mười lợn như thế này thì thánh thần nào chứng, nhưng để làm gương cho đám chức sắc, ông cũng hài hả đáp:
- Thôi được, mấy vị đã nói thế ta cũng giúp cho làng, sau này ai cũng đè đầu cưỡi cổ thiên hạ đều được cả.
Ngay sau đó, Tả Ao ra trước sân đình đặt tróc long định hướng, rồi cắm hướng mới cho ngôi đình. Xong ông cáo biệt đi thẳng.
Mấy tháng sau khi đình đã được xoay ngôi đổi hướng, các vị chức sắc kỳ mục không nói cho dân làng nghe chuyện, mà chỉ dặn con cháu ra công đèn sách nay mai ứng thí. Nhưng quái lạ, tất cả đám con trai, từ lớn đến bé hễ cầm quyển sách định học, nhưng học mãi mà chữ nghĩa chẳng vào đầu. Các thầy đồ được mời đến dạy cũng thở dài ngao ngán. Sau đó, thay vì sách vở bút nghiên, càng ngày càng có nhiều anh con trai con các chức sắc kỳ mục rủ nhau đi sắm hòm đồ nghề thợ cạo, xách đi khắp nơi hớt tóc dạo. Trong lúc hành nghề, họ tha hồ mà “đè đầu đè cổ” thiên hạ để… cắt tóc, cạo mặt, ngoáy tai…
Các cụ chức sắc lúc ấy mới ngã ngửa hiểu ra cái thâm ý của thầy Tả Ao trước đây nhưng cũng hiểu rõ vì quá tham lam, chỉ biết tư lợi cá nhân, nên mới bị Tả Ao chơi trác.
5 Tả Ao trị kẻ gian xảo
Ở tỉnh Đoài có một gã trọc phú thích công danh, chỉ ước cho hai con mình được đỗ đạt hầu vênh vang với thiên hạ.
Nhân dịp Tả Ao ghé qua tỉnh, nhà trọc phú bèn túm lấy năn nỉ ông, đặt giúp cho một ngôi mộ làm sao cho hai đứa con được đỗ bảng nhãn, thám hoa rồi được bổ làm quan.
Tả Ao nói :
- Nếu ông thực lòng muốn thế thì tôi sẽ giúp, nhưng tôi xin nói thật, để thỏa lòng việc này cũng phải tốn kém lắm!
- Tốn kém như thế nào xin ông cứ cho biết, tôi sẽ cố gắng lo liệu – gã trọc phú nói.
- Chí ít cũng phải 500 quan tiền. Ông biết đấy, đoạt được bảng nhãn, thám hoa, đâu phải chuyện chơi !
Gã trọc phú liền gãi đầu :
- Thưa ông, những 500 quan một ngôi mộ… chẳng giấu gì ông, tôi đang gặp cơn đen vận túng, chi những 500 quan một lúc, cũng khá nặng. Xin ông nới tay cho thì tôi cảm ơn lắm!
- Thế chí ít ông chi được bao nhiêu quan tiền?
- Chừng 200 quan có được không? Xin ông ra ơn làm phúc, sau này như ý tôi sẽ hậu tạ thêm !
- 200 quan thì sao đủ? Nào phải phân kim, xem hướng long mạch, định huyệt, rồi cúng tế cho ngũ phương, ngũ thổ long mạch thần linh, nào Trạch chúa, Sơn hà hải ngạn chi thần, nào đương niên đương canh mệnh vị thần quân, nào thành hoàng bản cảnh đại vương liệt vị ! Những ngần ấy thứ sao đủ sắm lễ…
- Thôi được! Ông đã có lòng giúp thì tôi cũng vui lòng dấn thêm, ta quyết với nhau 300 quan tiền nhé! Xin ông bắt tay vào việc ngay ch !
- Thôi được! Tôi nể lời ông lắm vì muốn tạo phúc cho con cái.
Tả Ao sau khi nhận tiền xong, sai người đi mua một chiếc tiểu sành. Còn bao nhiêu tiền đem cho những người nghèo khó hết.
Hôm sau, dưới sự chỉ dẫn của Tả Ao, gã trọc phú và đám gia nhân bốc ngôi mộ tứ đại chôn vào ngôi huyệt mới. Rồi Tả Ao giao cho gã trọc phú một ống tre, trong đựng một tờ “phép”, dặn phải đúng một năm sau mới được mở ra xem. Nếu táy máy mà giở ra đọc trước, ngôi mộ sẽ hỏng mất thì đừng trách ông.
Chưa được một năm, bỗng nhà trọc phú gặp liên tiếp nhiều tai họa, gia sản bị cướp bóc , lại bị thưa kiện, rồi bệnh hoạn. Hai thằng con trai thì đổ đốn bỏ học, đi chơi bời lêu lổng thêm tính nghiện hút. Gia đình lâm vào cảnh cùng quẫn, cả nhà phải xoay ra làm nghề mổ heo đem ra chợ bán kiếm miếng ăn. Mấy cha con hóa thành đồ tể.
Đúng ngày Tả Ao dặn, gã trọc phú tán gia bại sản mới giở ống tre ra xem, thì thấy có một mảnh giấy trong đó viết mấy câu sau:
Thiếu tiền 3 quan
Bị giảm 3 phần
Bút hóa ra cây xiên (thịt)
Nghiên hóa ra thớt
Bảng nhãn thám hoa
Hóa ra đồ tể!
Đọc xong tờ giấy, cả nhà mới ngã ngửa người ra. Thì ra lúc giao tiền cho Tả Ao, gã trọc phú đã cố tình đếm thiếu 3 quan. Gã có ngờ đâu hành vi ấy đã làm Tả Ao giận và ông đã đặt mộ tổ nhà kẻ trọc phú vào mảnh đất phát về nghề giết mổ.
6 Tả Ao và anh chàng học trò
Ở một làng có một anh chàng láu cá thượng hạng nhưng thông minh và hiếu học. Hoàn cảnh anh ta thật đáng thương, có người chị gái góa bụa có con thơ, vẫn phải đầu tắt mặt tối nuôi em ăn học. Hai chị em bữa đói bữa no.
Anh chàng cảm thấy vô cùng phẫn chí.
Bỗng một hôm anh ta nghe tiếng thầy Tả Ao đi qua làng, bèn liều mình đến lạy ông thương xót hoàn cảnh của hai chị em mà gia ân làm phúc. Tả Ao thấy anh ta mặt mày khôi ngô, lại tỏ ra con người có chí tiến thủ, bèn nhận lời.
Sau khi làm bữa cơm đãi thầy, người chị sụt sùi kể:
- Bẩm cụ chẳng may cho hai chị em cháu, cha mẹ đều mất sớm. Em cháu đã cố theo nghiệp bút nghiên, mà không hiểu sao đi thi mấy lần đều trượt. Nay chị em cháu trông cậy vào cụ, xin cụ rộng lòng thương!
Tả Ao mới hỏi:
- Thế mộ cụ thân sinh của chị đặt ở đâu?
Người chị nghe hỏi, càng nức nở khóc rằng:
- Thưa cụ, cha mẹ chúng cháu mất từ khi chúng cháu còn quá nhỏ, nên đến nay không còn biết mộ đặt ở chỗ nào nữa!
Tả Ao suy nghĩ  rồi bảo:
- Thôi, cũng không can hệ gì!
Đoạn ông vừa uống rượu vừa chú ý nhìn ra ngoài sân. Chợt phát hiện có một luồng khí trắng từ dưới đất bốc lên, đích thị đó là khí long mạch.
Tả Ao liền nghĩ đến phép “táng sống”, một trong những phép vi diệu nhất của môn địa lý phong thủy.
Ông sai hai chị em đào một cái hố ở ngay địa điểm có luồng khí bốc lên, sâu hơn hai thước. Sau đó bảo chàng trai đứng xuống hố và dặn hễ thấy nóng tới đâu thì phải báo cho ông biết tới đấy.
Đoạn Tả Ao đứng ở một chỗ khác, dùng chân dậm lên long mạch, miệng khấn: “Bản xứ thổ địa long mạch thần linh, phóng hậu khí vào anh học trò thi cử lận đận”.
Quả nhiên anh học trò bắt đầu thấy nóng ran từ dưới bàn chân nóng lên đầu gối rồi lên đùi. Anh ta nghĩ rằng chắc càng nóng nhiều và càng lên cao trên mình thì càng tốt. Vì vậy anh ta cố sức chịu nóng. Tả Ao liền hỏi:
- Nóng đến đâu rồi?
Anh học trò thấy đã nóng tới đùi, nhưng nói dối rằng:
- Thưa cụ, tới bắp chân rồi ạ!
Lát sau Tả Ao lại hỏi:
- Nóng tới đâu rồi?
- Thưa, tới đùi rồi ạ!
Tả Ao dậm mạnh chân hơn rồi lại hỏi:
- Nóng tới đâu rồi?
Thực ra nóng đã tới vai, nhưng anh học trò láu cá lại bảo:
- Thưa, tới bụng rồi ạ!
Tả Ao lấy làm lạ, tại sao lần này hậu khí lại lên chậm như thế? Ông lập tức chạy đến chỗ chàng trai, sờ vào người thì thấy nóng đã tới vai. Ông bực lắm quát:
- Tại sao đã nóng tới vai mà anh lại bảo mới nóng đến bụng? Anh nói dối thế này rồi sẽ gặp đại họa. Tôi bảo trước cho anh biết, sau này anh tuy được làm quan nhưng sẽ phải chết bất đắc kỳ tử.
Nói xong, Tả Ao vào khoác tay nải đi luôn một mạch. Vừa đi ông vừa hối hận, rằng đã già trên đầu hai thứ tóc còn bị một thằng con nít́ lừa. Giá ông không nhanh trí chạy lại sờ xem thì chắc anh chàng láu cá sẽ chờ nóng đến đầu, ắt sẽ được làm vương.
Hiệu quả của sự “táng sống” này thật là mầu nhiệm. Từ hôm đó, anh chàng học một biết mười, chẳng bao lâu chiếm được bảng vàng rồi được bổ làm quan đến chức nhất phẩm, nhưng về sau trong nước xảy ra loạn lạc, vua sai anh ta cầm quân đi đánh và bị trúng tên chết liền tại trận.
7 Tả Ao và làng làm nghề đóng cối
Một hôm Tả Ao đang đi bị lỡ độ đường, ông phải vào một làng xin ngủ đỡ qua đêm.
Tả Ao đi đã nhiều nơi nhưng không thấy nơi đâu buồn tẻ như cái làng này. Tất cả đàn bà trong làng đều tất bật lam lũ, gồng gánh suốt từ mờ đất cho đến lúc gà lên chuồng vẫn chưa ngơi tay. Họ phải làm hàng xáo (bán gạo thóc), nào đong gạo, phơi phóng, sàng sẩy, phân loại gạo nào ra thứ gạo ấy rồi gánh ra chợ đua tài buôn chín bán mười, lấy tiền nuôi chồng nuôi con. Trong khi các ông chồng lại quanh năm không mó tay vào một công việc gì. Suốt ngày rủ nhau hết rượu chè hút xách, lại cờ bạc thâu đêm suốt sáng.
Tuy làng này đối với ông không có họ hàng gì, nhưng không hiểu sao Tả Ao vẫn không thể nào nhẫn tâm mà bước đi tiếp. Ông nghĩ phải tìm cách kiếm cho bọn đàn ông trong làng một nghề ngỗng gì đó cho họ làm.
Sáng hôm sau, ông ra quán nước đầu làng ngồi uống nước, gặp ngay vị tiên chỉ. Sau câu chào hỏi làm quen, Tả Ao nói:
- Bẩm cụ, tôi là thầy địa lý, hôm nay rảnh rỗi đi xem phong thủy vùng ta hung cát thế nào…
Ông tiên chỉ mừng rỡ kêu:
- Ối trời đất ơi! Thì ra cụ là thánh địa lý Tả Ao đấy à. Lạy thánh mớ bái, tôi thật là được văn kỳ thanh mà bất kiến kỳ hình. Thưa cụ, xin mời cụ vào trong đình để các vị bản chức trong làng được yết kiến thánh nhan của cụ và xin cho mấy lời chỉ bảo, xem cái lẽ hung kiết của làng ra sao. Sau nhờ bảo ban cho chúng tôi một lời.
Trước sự niềm nở của ông tiên chỉ, Tả Ao bằng lòng theo ông ta vào trong đình. Ông được các vị chức sắc trong làng thiết đãi khá tươm tất. Sáng hôm sau tất cả hương chức cùng nhau dẫn thầy đi xem phong thủy. Nhân tiện, Tả Ao hỏi xem trong làng này có nghề gì phát đạt nhất.
Cụ tiên chỉ đáp:
- Ấy thưa cụ, trong làng này độc nhất có nhà tôi làm nghề làm cối xay đã lâu. Cái nghề tuy kiếm được đồng tiền bát gạo, nhưng phải cái lao lực chứ không được nhàn hạ. Vì vậy mà bao nhiêu tráng đinh trong làng quen dài lưng chẳng ai chịu theo nghề. Tôi cũng rất lấy làm tiếc.
Tả Ao nghe xong vừa đi vừa nghĩ, rồi ông lẩm bẩm:
- Không chịu theo, lười lao động hả. Rồi ta cho phải theo, phải làm tất.
Chợt Tả Ao phát hiện ra một gò đất ở cuối làng, cho rằng có thể làm nên cơ sự ở cái gò đất này.
Ông bảo với vị tiên chỉ:
- Cái gò này án ngữ ở đây không lợi cho làng ta mấy. Nó cản trở cả phần đinh (sinh con sinh cháu) lẫn phần phú (tiền tài). Vậy phải được cải đổi đi một phần, tất sẽ có lợi.
Các hương chức đều nhất trí:
- Cụ dạy thế nào chúng tôi xin thi hành như thế. Được như lời cụ thì thật phúc cho làng quá.
Ngay lập tức các tuần đinh được điều động mang cuốc xẻng ra bạt hai dẻo đất phía tả và phía hữu của gò đất, như thể cắt bớt cánh của con chim ưng. Gò đất chỉ còn lại một ụ tròn, hai bên có hai cái tai như tai cối xay gạo.
Thấy lạ một vị kỳ mục lên tiếng thắc mắc hỏi:
- Thưa cụ tôi xin hỏi, cứ như con mắt tôi nhìn thì gò đất này bây giờ trông sao mà giống cái cối xay gạo đến thế?
Tả Ao cười:
- Thưa cụ, sách địa lý đã dạy: “Địa lý bất ngoại địa hình” (địa lý không ngoài hình thể đất đai). Nên sau này về hậu sự, các cụ sẽ thấy sách dạy không sai.
Sau khi cải đổi hình thể gò đất xong, Tả Ao cáo bận xách túi đi ngay. Các hương chức biếu ông tiền, ông cũng nhất định từ chối.
Quả nhiên mấy tháng sau, tình hình trong làng khác hẳn. Các bà vợ đều mang thai hết một loạt. Rõ ràng làng đã phát về “đinh”, nhưng đồng thời vì bận con mọn nên không ai đi bán hàng xáo nữa.
Các ông chồng hết còn cơ hội bám váy vợ để hưởng thụ an nhàn, nên cực chẳng đã phải tính cách đi kiếm sống. Ông tiên chỉ cho gọi họ sang mở lò đóng cối, không một ai chê bai gì nữa. Tình trạng rượu chè cờ bạc của cánh đàn ông hầu như tuyệt hẳn mà cái nghề làm cối xay này rõ ràng là kiếm ăn được, cối xay làm ra không kịp để bán. Các lái buôn từ các tỉnh tín nhiệm thứ cối gỗ mít thượng hạng của làng, đã ùn ùn kéo đến mua cối về bán.
Tất cả mọi người ngẫm lại lời của Tả Ao nói ngày trước mà bái phục. Rõ ràng “địa lý bất ngoại địa hình” là cuối làng có một gò đất có hình cối xay và làng thì lại phát ề nghề làm cối xay, nổi danh khắp thiên hạ!

Giải Mã,Giai Thoại,Kho Tri Thức,Truyện Trạng,Văn Học Nghệ Thuật

Để kiểm chứng khả năng tiên tri của mình, Trạng Trình tự lấy số tử vi cho cái quạt rồi cẩn thận theo dõi kết quả xem mình đoán đúng hay trật.

Nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người nghĩ ngay đến Sấm Trạng Trình – một tác phẩm tiên tri nổi tiếng của ông. Song xung quanh nhân vật huyền thoại này còn khá nhiều giai thoại ly kỳ hấp dẫn luôn được nhân dân truyền miệng.




50 năm sau vẫn không có đối thủ

Sinh thời, Trạng Trình nổi tiếng là người thông hiểu thuật lý số. Tiếng tăm của ông không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến cả Trung Hoa là đất nước phát tích của môn này. Giới học giả Trung Hoa cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”. Trình Tuyền tức là hiệu của Trạng Trình vì triều Mạc phong cho ông tước Trình Tuyền hầu.

Bởi tiếng tăm vang dội ấy của Nguyễn Bỉnh Khiêm nên sau khi ông mất đi rồi, có thầy địa lý nổi tiếng ở Trung Quốc đã không quản đường xá, lặn lội sang tận nơi thăm viếng mộ. Ông thầy địa lý đến nơi thấy rõ ràng ngôi mộ đặt đúng vào huyệt đất tốt nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược. Cho là Trạng Trình cũng chỉ có danh mà không có thực, ông thầy Tàu mới tự đắc bảo: “Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh-nhân cái gì đâu, hay là thánh-nhân mắt mù đó”.

Con cháu cụ Trạng nghe thấy vậy liền về báo với trưởng tộc. Ông trưởng tộc vội vàng ra mời thầy về rồi khẩn khoản nhờ thày đặt lại mộ cho. Thầy địa lý đồng ý và bảo: “Không cần phải đem đâu xa cả, chỉ cần đào lên rồi xoay lại và nhích lên một chút là được”.
                Trạng Trình được in trên tem bưu chính VN.
Con cháu cụ Trạng theo lời đào mộ lên để xoay lại. Đến gần quan tài thì thấy có tấm bia. Tò mò, thầy địa lý mới bảo rửa sạch đi để xem bia có viết gì. Khi đã rửa sạch sẽ, thấy tấm bia có khắc một bài thơ:"Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri?/Hà vị thánh-nhân vô nhỉ mục?". Nghĩa là:"Ngày nay mạch lộn xuống chân/Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu./Biết gì những kẻ sinh sau?/Thánh-nhân mắt có mù đâu bao giờ?"

Đọc thấy tấm bia, thày địa lý mới ngã ngửa. Thì ra cụ Trạng đã tiên liệu mọi việc, thậm chí còn biết mình sẽ nói câu “Thánh nhân mắt mù”. Lúc bấy giờ mới vỡ lẽ, trước khi chết, cụ Trạng đã dặn con cháu kỹ càng mọi việc rằng không được cải táng và phải trông coi kỹ càng, nếu có ai đến thăm mộ mà nói: “Thánh nhân mắt mù” thì phải mời họ về nhà rồi nhờ họ để lại hướng của ngôi mộ, nếu không con cháu đời sau sẽ lụn bại.

Cụ còn dặn dò kỹ là khi chôn cụ phải để một tấm bia lên nắp quan tài trước khi lấp đất. Khi ấy tấm bia được cụ sơn cẩn thận bên ngoài nên không ai biết tấm bia có cái gì. Đến đây mọi sự vỡ lẽ, thày địa lý Trung Quốc thầm kinh hãi mà tự nhận vẫn chỉ đáng là học trò của cụ. (Theo sách Trạng Trình - Sấm và Ký)

Cứu quan tổng đốc

Cũng với mô típ giống giai thoại trên, dân gian còn lưu truyền một câu chuyện khác về việc cụ Trạng cứu quan Tổng đốc Hải Dương. Truyện rằng: “Lúc sắp mất, Trạng có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Tống Đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở xem, trừ quan Tổng đốc.

Cái ống tre ấy truyền đến người cháu 7 đời cụ, mới rước lên Dinh quan Tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống, thấy một cuộn giấy, ngài rút ra xem thấy có hai câu chữ nho:"Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách,/Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần". Nghĩa là :"Ta cứu mày khỏi sà nhà đổ,Mày cứu ta cháu bảy đời nghèo".

Đang lúc bận việc, quan Tổng Đốc thấy hai câu nói xấc xược gọi quan bằng mày ấy, ngài cả giận sẵn cầm chiếc quạt, ngài đứng dậy chạy lại định đánh người cháu Cụ. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà đã từ ngay trên đỉnh đầu đổ rớt xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ngài mới bước ra, nên không sao.

Quan Tổng Đốc lúc đó mới giật mình, hiểu rõ Cụ Trạng đã cứu cho mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử. Quan phải ân cần xin lỗi người cháu Cụ, mời về tư thất thế đãi cơm rượu, rồi đưa một số tiền ra giúp, để cứu vãn cho gia đình con cháu Cụ khi đó đang lâm vào hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.

Tự kiểm chứng khả năng phán đoán

Sấm Trạng Trình thì nhiều người biết nhưng ít người biết rằng lúc sinh thời, cụ Trạng đã từng tự kiểm chứng khả năng tiên tri của mình khi tự lấy số tử vi cho cái quạt rồi cẩn thận theo dõi kết quả để xem mình đoán đúng hay trật.

Một hôm trời mùa hạ, bà Trạng đi chợ mua về cho cụ một cây quạt giấy. Cụ tính ngày giờ, rồi lấy cho cây quạt một lá số tử vi. Cụ đoán ra cái ngày chết của nó. Tất cả những việc làm ấy, cụ đều bí mật không cho một ai hay. Cụ phân vân nghĩ: “Nếu để dùng, lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, cái đó là sự bình thường. Nếu đúng như số thật, thì quả nó như vậy, mọi việc đều do nơi tiền định, không ai có thể ngăn cản được, thì ta hãy cất đi xem nó ra thế nào. Đúng đến ngày ấy, nó có chết thật không?”
Đền thờ Trạng Trình tại Hải Dương
Nghĩ vậy, cụ niêm phong cây quạt và treo ngay trên chỗ đầu giường. Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Bữa đó từ sáng đến chiều, cụ ở nhà cả ngày để xem cây quạt chết ra sao. Thỉnh thoảng cụ lại ngắm nghía, và lấy phất trần phủi những hạt bụi bám xung quanh.

Trưa hôm ấy, người cháu gọi bà Trạng bằng cô, có việc cần, đến mấy lượt thỉnh cụ lại chơi, cụ cũng từ chối không đi. Anh ta nghĩ cho cụ giận mình về việc chi mà không nói, đến than thở, nói với bà Trạng, để nhờ bà đốc cụ đi dùm cho, không có, công việc anh không thành.

Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt thấy cụ cứ chốc chốc lại phủi bụi cho cây quạt. Bà lên đốc cụ đi sang cho nhà cháu. Cụ không đi. Bực mình, bà Trạng liền la lối ỏm tỏi: “Ông ở nhà làm gì, con cháu nó mời mấy lần, mà ông không chịu sang. Tôi mua quạt về dùng, đâu phải để ông cất đi, làm đày tớ mà phủi bụi cho nó”

Vừa la lối bà Trạng vưa nhẩy lên với lấy cây quạt xé tan nát thành từng mảnh. Thấy vậy, cụ Trạng cả cười nói: “Đúng thật, ta tưởng nó chết thế nào, thì ra như vậy đó”.Bà Trạng cũng không biết ý cụ nói thế là làm sao. Lúc đó cụ mới chỉnh tề khăn áo đi sang nhà người cháu, và kể lại đầu đuôi câu chuyện với mọi người. Ai nấy cũng đều phục cụ là tiên tri.

Theo Tuần xã hội

Giải Mã,Giai Thoại,Kho Tri Thức,Văn Học Nghệ Thuật